Hỏi đáp

Khái niệm pháp (dharma) trong Phật giáo

NSGN – Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa chính là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa , và sự giải thích khác nhau trong quá trình phát triển tư tưởng ở Ấn Độ. Phật giáo chia sẻ thuật ngữ này , một số ý nghĩa của nó với các tôn giáo Ấn Độ khác, Tuy vậy đồng thời nó cũng đưa ra một số giải thích riêng. Pháp có khả năng bao hàm nhiều nghĩa khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau , liên quan đến các vấn đề khác nhau. Ở đây chúng ta cũng sẽ xem xét khái niệm này dưới hai đề mục: trước hết là pháp ở nơi nghĩa chung, bao gồm nhiều nghĩa khác nhau; , thứ hai là pháp mang tính thuật ngữ riêng, chỉ cho các thành phần hay yếu tố cuối cùng của toàn bộ thực tại hiện hữu.

dùng chung

Dharma chính là gì

Pháp đã và vẫn đang được dùng bởi hầu hết các tôn giáo có nguồn gốc đến từ Ấn Độ để chỉ niềm tin và sự thực hành tôn giáo của họ. Nơi nghĩa này, pháp đề cập chung cho các gì mọi người gọi chính là “tôn giáo”. Pháp cũng chỉ cho trật tự vũ trụ, luật tự nhiên, hay là nguyên lý mà toàn thể thế giới (saṃsāra) vận hành theo chu trình của nó. Bên trong ngữ cảnh Phật giáo, trật tự vũ trụ này được vận hành theo luật duyên khởi (pratītya-samutpāda). Luật thiên nhiên này, mà nó kiểm soát chuỗi sự kiện , hành động của chúng sanh, không có khởi thủy hay người sáng tạo nên. Nó không có sự khởi đầu và các chức năng bản chất của riêng nó. Ở trong Tăng nhanh chi bộ (Aṅguttara Nikāya) , và Tương ưng bộ (Saṃyutta Nikāya), , về sau đã được nhắc lại trong kinh Lăng-già (Laṅkāvatāra Sūtra), được nói rằng bản chất của vạn vật chính là luật nhân quả , và luật này quyết định nên thế giới này cho dù Như Lai (Tathāgata) có xuất hiện ở nơi cuộc đời này hay là không. Đây chính là một luật vĩnh cửu và phổ quát mà sự có mặt của nó không phụ thuộc vào việc xuất hiện của chư Như Lai; sứ mệnh của chư Phật ở nơi cõi đời này chỉ chính là khai mở nó. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầu tiên nhận biết , thấu hiểu luật cơ bản này , sau đó tuyên thuyết và giảng dạy nó cho các người theo Ngài. Sự khám phá bản chất của pháp được so sánh trong một số bản kinh với việc phát hiện một kinh thành cũ bị bỏ quên. Trong Phật giáo Đại thừa, đặc biệt ở trong ngữ cảnh học thuyết Tam thân Phật (trikāya) , việc tái giải thích mối liên hệ giữa luân hồi (saṃsāra) và Niết-bàn (nirvāṇa) như chính là hai mặt của cùng thực tại, pháp như chính là nguyên lý phổ quát nhận lấy một sự giải thích sâu rộng hơn. Như là một phần trong đến từ ghép pháp thân (dharmakāya), nó biểu thị cả thực tại siêu việt , và nội tại của mọi chúng sanh , và sự hiện hữu. Như vậy, nó rõ ràng biểu thị bản chất của chúng sanh cũng như bản chất của chư Phật. Ở nơi nghĩa biểu thị sự hiện hữu hiện tượng, nó cũng đã được đề cập như chính là thực tại (dharmatā: pháp tính), bản chất của thực tại (dharmadhātu: pháp giới), chân như (tathatā), tánh chưa (śūnyatā), hay tàng thức (ālaya-vijñāna). Nơi nghĩa đề cập đến bản chất chư Phật, nó cũng đã được gọi là Phật tính (buddhatā), chính là tự tính của chư Phật (buddhasvabhāva), hay Như Lai tạng (tathāgata-garbha).

Bạn đang đọc: Khái niệm pháp (dharma) trong Phật giáo

Pháp như chính là giáo pháp của Đức Phật nói chung bao gồm sự trình bày của Ngài về trật tự tự nhiên như đã được mô tả trên và tuyên thuyết của Ngài về con đường đưa đến giải thoát. Như vậy, khi giáo pháp của Ngài có nghĩa như một hệ thống toàn vẹn thì chính thuật ngữ pháp (hoặc śāsana) đã được dùng. Khi giáo pháp của Ngài đã được đề cập đến hay là đã được giải thích đến từ hai góc độ khác nhau, tức là, khi khía cạnh lý thuyết và thực tiễn được phân biệt, hai thuật ngữ đã được dùng: pháp, là tập hợp các bài pháp đã được lưu giữ trong Kinh , và Luật, hay là các luật lệ , quy tắc cho việc áp dụng , và thực hành pháp. Prātimokṣa bao gồm các giới luật, , và mỗi trong các giới đó cũng được gọi chính là pháp.

Giải thích ngắn số 1 Tuy vậy tuy vậy rõ ràng số 1 về pháp như chính là lời dạy của Đức Phật (buddhavacana) đã được tóm tắt ở trong bài pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi Ngài “vận chuyển” (tuyên thuyết) bánh xe pháp: Tứ diệu đế và Bát Thánh đạo. Có khổ đau , có nguyên nhân tạo ra khổ đau, nguyên nhân đó có khả năng đã được đoạn trừ nhờ vào sự thấu hiểu , và thực hành con đường pháp như đã được tóm tắt chỉ bằng Bát Thánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp… Sự trình bày khác về con đường này được nói rõ bên trong ba tu tập căn bản đó là giới (śīla), định (dhyāna) , tuệ (prajñā). Nhờ vào tuệ ta có đã được một cái nhìn trọn vẹn về pháp, nhờ vào giới ta thanh tịnh tất cả các gì làm chướng ngại cái nhìn về pháp, , và nhờ vào thiền định, ta trưởng dưỡng pháp bên trong chúng ta và thực sự biến mình thành một phần của pháp. Pháp biểu thị cho sự thật, hiểu biết, luân lý , bổn phận. Nó chính là sự thật về trạng thái và chức năng của thế giới, sự thật về cách các loại trừ các khuynh hướng xấu ác của nó, , sự thật về năng lực tinh thần chưa thay đổi của nó. Nó là sự hiểu biết ở trong nghĩa rằng mỗi khi ta biết pháp, ta có được sử hiểu biết mà nó thoát khỏi các trói buộc của sự hiện hữu hiện tượng. Nó chính là luân lý, vì nó chứa đựng một bộ hành xử đạo đức hỗ trợ ta có đã được sự thanh tịnh , và tiến bộ tâm linh. Nó chính là bổn phận, bởi vì các ai nói pháp đều phải có bổn phận tuân theo các quy tắc của nó , và đạt lấy mục đích mà nó đặt ra. Nơi nghĩa này, chỉ có một bổn phận trong Phật giáo: nỗ lực không ngừng nghỉ để triệu chứng đạt Niết-bàn.

Pháp (Dharma), cùng với Phật (Buddha) và Tăng mạnh (Saṃgha), hình thành nên “Tam bảo” (Triratna), đối tượng mà ta phát tâm lễ bái và quy y. Ngay sau giác ngộ, khi cho thấy rằng không có người nào toàn mãn hơn mình về phẩm hạnh, trí tuệ và thiền định để có khả năng cung kính noi theo, Đức Phật Thích Ca quyết định rằng Ngài sẽ sống kính trọng pháp, sự thật phổ quát mà Ngài vừa nhận chân. Tam bảo như được hiểu vào thời sơ kỳ có khả năng được so sánh với khái niệm Tam thân Phật về sau. Pháp chính là Pháp thân (dharmakāya), đại diện cho khía cạnh tuyệt đối , siêu phàm; Phật chính là Báo thân (saṃbhogakāya), đại diện cho trạng thái thanh tịnh , và đáng được tán thán; , và Tăng nhanh chính là Ứng thân (nirmāṇakāya), đại diện cho pháp như được khám phá , và vận hành bên trong thế giới.

dùng ở mặt thuật ngữ riêng

Tìm hiểu thêm: Dịch hạch: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

Pháp như là các yếu tố hay nguyên lý cuối cùng của sự hiện hữu như được hệ thống trong văn học A-tỳ-đàm (abhidharma), đặc biệt trong các tác phẩm A-tỳ-đàm của Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda), không được trình bày có hệ thống ở trong bốn bộ Nikāya (A-hàm). Trong các bản kinh của bốn bộ Nikāya, chúng ta thấy có nhiều sự mô tả về pháp , các phân các loại khác nhau của chúng, Tuy vậy việc hệ thống hóa của chúng vào các gì chúng ta có khả năng gọi “học thuyết pháp” chỉ xảy ra trong văn học A-tỳ-đàm. Như vậy, trong các Nikāya, pháp thường đã được miêu tả như là điều tốt hay là xấu liên quan đến phẩm hạnh đạo đức, mà chưa nhận đã được nhiều sự quan tâm như các hệ thống siêu hình hay nhận thức luận chặt chẽ. Dasuttara Sutta liệt kê khoảng 550 pháp cần được tu tập hay là đoạn trừ. Saṅgīti Sutta thậm chí đưa ra một con số lớn hơn, và Mahāparinibbāna Suttanta liệt ra 1.011 pháp. Trong Mahāparinibbāna Suttanta, chúng ta cũng thấy một tập hợp các pháp mà Đức Phật Thích Ca xác định là vì lợi ích của chúng sanh. các pháp này bao gồm 37 Bồ-đề phần (bodhipakṣya dharma) mà nó hình thành nên 37 sự thực hành , và các nguyên tắc hỗ trợ cho cho việc chứng đắc giác ngộ.

Thay vì cung cấp thêm các trường hợp khác từ các bản kinh, bây giờ tôi sẽ tập trung vào việc mô tả học thuyết pháp của Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda). Bên trong sự trình bày có hệ thống của nó, ta hầu như thấy tất cả các khía cạnh quan trọng của pháp và vai trò của chúng. các giải thích khác nhau của các tông phái sẽ được đề cập khi nào thấy thích hợp.

Phật giáo đưa ra một phát biểu dứt khoát rằng một “linh hồn” (ātman) như được giải thích bởi các tông phái phi Phật giáo ở Ấn Độ là chưa tồn tại. Bằng việc phủ nhận sự hiện hữu của một linh hồn như chính là một yếu tố thường hằng , và hợp số 1 của một thực thể con người, Phật giáo đã loại bỏ mọi nền tảng cho việc khẳng định sự thường hằng của một thực thể con người hay là sự hiện hữu của bất kỳ yếu tố không thể phá hủy nào ở trong đó. Liên quan đến tính thực thể của các sự vật vật lý, Phật giáo đã loại bỏ khái niệm tự thể , và thay điều đó bằng các thể thức: không có tự thể mà chỉ có sự biểu hiện của các gì chúng ta gọi chính là sự vật. Khi từ bỏ khái niệm về tự thể, Phật giáo đưa ra một sự giải thích về cách thế giới này vận hành. Theo sự giải thích này, vũ trụ được xem như một dòng chảy của các pháp, các yếu tố hay là nguyên lý nhỏ nhất mà nó bao gồm, nhưng dòng chảy này không các đơn thuần chính là một dòng chuyển động hay thay đổi rời rạc. Ngược lại, thế giới tiến hóa theo luật duyên khởi (pratītya-samutpāda).

Dòng chảy chung này có khả năng được xem xét nơi ba cấp độ đồng thời và tương quan. Nếu mọi người tách riêng thế giới vô tri vô giác (thế giới vật chất), ta thấy nó trôi chảy theo một luật thay đổi đồng số 1 , và tự nhiên. Tương tự, thế giới hữu cơ (thực vật) trôi chảy theo sự tiến hóa đồng điệu của đời sống thiên nhiên (nảy mầm, phát triển v.v…). Cấp độ thứ ba đã được cấu thành bởi đời sống hữu tình. Cấp độ cuối này, ngoài việc bao gồm các cấp độ khác (vật chất , các chức năng hữu cơ), cũng bao gồm một yếu tố cảm giác (thức hay là tâm). Nói chung, mọi người có khả năng nói rằng nó bao gồm các yếu tố vật chất cũng như yếu tố phi vật chất. Đời sống hữu tình ấy, mà ở đó các yếu tố vật chất và phi vật chất đã được nối kết với nhau, tiến triển hay tuôn chảy theo luật nhân quả như đã được quy định ở nơi mối liên hệ duyên sinh nhân quả. Ngoài ra, dòng chảy tương tục của đời sống hữu tình được sắp xếp bởi luật duyên khởi này có một luật đạo đức đã được đặt lên nó: luật nghiệp.

Chính vì liên quan đến một dòng chảy như vậy mà học thuyết pháp cố gắng đưa ra một sự giải thích. Không có tự thể hay là con người nhưng có các pháp (các yếu tố tâm vật lý) trôi chảy theo luật duyên khởi chịu sự tác động của luật nghiệp. Nói chung, học thuyết pháp đưa ra một sự giải thích về cách các chức năng chung bên trong ngữ cảnh của một đời sống hữu tình, cụ thể dòng chảy một con người, vì chính đời sống con người là điều Phật giáo quan tâm. Học thuyết pháp như vậy không giải thích nhiều về vũ trụ là gì khi nó nỗ lực miêu tả các gì nó bao gồm và cách nó đóng chức năng. Như vậy, trong việc liệt kê chi tiết các pháp như chính là các yếu tố cơ bản , vô cùng nhỏ mà chúng hình thành nên vũ trụ, mọi người tìm thấy một sự phân tích về đời sống con người , và số phận của nó. Nhưng sự phân tích này không phải là “tâm lý học Phật giáo”, như nhiều người gọi nó; nó vừa chính là một sự giải thích dòng hiện tượng tương tục và chưa thể hạn chế được , vừa chính là năng lực đưa dòng chảy đó đến chỗ kết thúc. Bây giờ tôi sẽ mô tả một số phân các loại pháp chung (lại trong A-tỳ-đàm của Nhất thiết hữu bộ). Các pháp được phân chia thành pháp có điều kiện/hữu vi (saṃskṛta) , và pháp chưa điều kiện/vô vi (asaṃskṛta). Các pháp có điều kiện (tất cả có 72) bao gồm tất cả các yếu tố của sự hiện hữu hiện tượng (saṃsāra). Chúng đã được gọi chính là điều kiện bởi vì bản chất của chúng , và ở nơi dòng chảy của chúng, chúng tương tác với và tùy thuộc vào luật nhân quả; chúng kết hợp , và hỗ trợ trong việc tạo nên đời sống (pṛhagjana). Các pháp chưa điều kiện (tất cả có ba) chính là các pháp mà chúng chưa phụ thuộc vào luật mà nó chi phối sự hiện hữu hiện tượng. các pháp cũng được phân thành các pháp bị ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng bởi các khuynh hướng tiêu cực hay các thứ ô nhiễm (āsrava; nơi nghĩa đạo đức chính là các nghiệp xấu), và các pháp mà chúng không bị tác động bởi các thứ nhiễm ô (anāsrava; về phương diện đạo đức là các nghiệp thiện).

Polaris là gì? Chi tiết về Polaris mới số 1 2021 | LADIGI

đây chính là các pháp giống như ở trong phân loại trước nhưng ở đây chúng đã được xem từ hai phương diện: khi chúng bị tác động bởi vô minh (avidyā), chúng có khuynh hướng nhiễm ô; khi chúng ảnh hưởng bởi trí tuệ (prajñā), chúng có khuynh hướng an tịnh. Theo bản chất của chúng, các pháp không điều kiện phải đã được phân loại vào các pháp mà chúng không bị ảnh hưởng bởi nhiễm ô. Chúng ta nhắc lại ở đây rằng đặc điểm chính của luân hồi (saṃsāra) chính là dao động, khổ (duḥkha); còn đặc điểm chính của Niết-bàn chính là an lạc, tịch diệt (nirodha). Các pháp cũng có khả năng được phân chia trong liên hệ đến Tứ đế. Ở đây chúng ta lại có một sự phân chia hai phần. Hai chân lý đầu (khổ [duḥkha] , lý do của nó [samudaya]) đề cập đến 72 pháp mà chúng bị tác động bởi các nhiễm ô hay đó chính là các pháp có điều kiện. Hai thánh đế khác (sự tịch diệt [nirodha] và con đường [mārga] đưa đến nó) đề cập đến ba pháp chưa điều kiện mà chúng luôn tịch tịnh (nirodha) , và đề cập đến các pháp mà chúng trên con đường (mārga) đưa đến tịch tịnh (nirodha).

Sau khi mô tả các phân các loại chung, bây giờ tôi sẽ đi đến liệt kê một bộ ba phân các loại tiêu chuẩn mà bên trong đó các pháp riêng đã được phân bổ. Phân loại đầu tiên, mà nó bao gồm các pháp có điều kiện, đề cập đến tập hợp của chúng như được lĩnh hội ở nơi một đời sống hữu tình. Phân loại này chia các pháp thành năm nhóm hay năm uẩn (skandha). Ở đây mọi người có 1/ sắc uẩn (rūpaskandha): mười một pháp; 2/ thọ uẩn (vedanāskandha): một pháp; 3/ tưởng uẩn (saṃjñāskandha): một pháp; 4/ hành uẩn (saṃskāraskandha): 58 pháp; và 5/ thức uẩn (vijñānaskandha): một pháp. Phân chia thành năm nhóm này không các hình thành nên một sự phân tích tất cả hiện tượng mà cũng được dùng để triệu chứng minh rằng chưa có linh hồn/ ngã thể (ātman) bên trong thực thể con người, vì không có thứ nào trong năm uẩn có khả năng được đồng nhất với hay được xem như một linh hồn. Phân các loại thứ hai chia các pháp liên quan đến quá trình nhận thức. Ở đây mọi người có sáu căn (indriya) , và sáu trần (viṣaya) được gọi chung là “xứ” hay “cơ sở” (āyatana) của nhận thức. Sáu giác quan hay là sáu nội xứ là: 1/ sắc xứ (cakṣur-indriyāyatana); 2/ nhĩ xứ (śrotra- indriyāyatana); 3/ tỷ xứ (ghrāna- indriyāyatana); 4/ thiệt xứ (jihvā- indriyāyatana); 5/ xúc xứ (kāya- indriyāyatana); và 6/ thức xứ (mana- indriyāyatana). Sáu đối tượng nhận thức hay sáu ngoại xứ là: 7/ sắc (rūpa-āyatana); 8/ thanh (śabda-āyatana); 9/ hương (gandha- āyatana); 10/ vị (rasa- āyatana); 11/ xúc (spraṣṭavya- āyatana); 12/ pháp (dharma- āyatana). 11 xứ (āyatana) đầu mỗi thứ có một pháp; các đối tượng phi vật chất bao gồm 64 pháp.

Loại thứ ba phân nhóm các pháp ở trong sự liên hệ với dòng chảy tương tục (santāna) của đời sống bên trong tam giới (Dục giới [kāma- dhātu], Sắc giới [rūpa-dhātu], và Vô sắc giới [ārūpya-dhātu]) như đã được miêu tả theo vũ trụ học Phật giáo. Nhóm này được phân thành mười tám giới hay yếu tố (dhātu). Nó bao gồm mười hai xứ được phân chia ở trên, bổ sung thêm một tập hợp sáu loại thức tương ứng. Như vậy mọi người có: 13/ nhãn thức (cakṣur-vijñānadhātu); 14/ nhĩ thức (śrotra-vijñānadhātu); 15/ tỷ thức (ghrāṇa-vijñānadhātu); 16/ thiệt thức (jihvā-vijñānadhātu); 17/ thân thức (kāya-vijñānadhātu); , 18/ ý thức (mano-vijñānadhātu). Bên trong nhóm này, năm căn , năm trần mỗi thứ có một pháp (có mười pháp tất cả). Thức (số 6) được chia ở đây thành bảy giới (dhātu; số 6 cộng 13-18). Giới mà nó đại diện cho các đối tượng chưa phải vật chất (số 12) chứa đựng 64 pháp. Tất cả 18 giới tồn tại nơi dục giới (kāmadhātu) hay thế giới mà ở đó tâm hoạt động nhờ vào data giác quan. Nơi thế giới vật chất vi tế (rūpadhātu: sắc giới), các đối tượng của ngửi và nếm (số 9-10) cùng tỷ thức và thiệt thức chưa còn tồn tại. Ở nơi thế giới không có vật chất/vô sắc giới (nhưng thường đã được giải thích là vật chất rất nhiều vi tế vì chúng ta vẫn còn ở bên trong saṃsāra), tất cả giới (dhātu) không còn tồn tại ngoại trừ thức (số 6), các đối tượng không thuộc vật chất của nó (số 12), , và khía cạnh phi giác quan của nhận thức (số 18).

Cuối cùng, mọi người đi đến liệt kê các pháp riêng. Bên trong phân loại thành năm uẩn (skandha), sắc (rūpa) bao gồm 11 pháp: năm căn (1-5) , và năm đối tượng giác quan tương ưng của chúng (7-11), cộng thêm một yếu tố bổ sung được thảo luận bên dưới. Xứ (āyatana) số 12 (các đối tượng chưa thuộc giác quan) ở trong hệ thống này đã được phân loại như một pháp không thuộc vật chất, và do đó không được xem xét ở đây.

Sắc hay thân đã được hiểu bao gồm bốn yếu tố chính yếu (mahābhūta: tứ đại) – đất, nước, lửa , và chưa khí. Sắc phụ thuộc/ sắc phái sinh (bhautika: đại chủng phái sinh, xuất phát từ hay liên quan đến sắc) đã được đại diện bởi các căn và đối tượng của chúng (tức là data giác quan). Bốn yếu tố chính yếu (tứ đại) được nói đến ở trong Phật giáo, nhưng cần hiểu bốn đại đã được dùng để đề cập đến bốn đặc tính: cứng (đất), cố kết (nước), hơi nóng (lửa) và chuyển động (gió), chứ chưa phải xem tứ đại chính là tự thể. Sắc đại (bốn yếu tố) có mặt nơi một thân thể duy trì sắc phái sinh (các giác quan và đối tượng của chúng). Bởi vì các Phật tử phân tích sắc bên trong ngữ cảnh của một đời sống hữu tình, mô tả của họ về sắc chính yếu liên quan đến việc nhận thức cách nó đóng chức năng và cách nó xuất hiện, chưa phải với các gì nó là, vì nói một cách chính xác nó chưa tồn tại. Thế giới là một dòng chảy tương tục, đời sống thay đổi từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Do đó, bởi vì các Phật tử tránh nói đến linh hồn hay tự thể, sắc chất chỉ được gọi chính là data giác quan. Một định nghĩa như vậy về các pháp vật lý mà chúng hình thành nên data giác quan (10 pháp) giải thích cho thành phần vật chất mà nó duy trì thức, thành phần khác của đời sống hữu tình. Vậy pháp thứ 11 chính là gì?

Nhất thiết hữu bộ, khi xem xét hành vi con người qua ba khía cạnh thân, khẩu , và ý, đã phân chia nghiệp (khi nó hoạt động bên trong một đời sống hữu tình) thành ý nghiệp (manas, đồng nhất với ý chí hay cetanā), thân nghiệp và khẩu nghiệp. Ý nghiệp được xếp loại là chưa thuộc vật chất Tuy vậy thân nghiệp và khẩu nghiệp mà chúng xuất phát từ ý nghiệp đã được phân các loại thuộc về vật chất (rūpaskandha). Ngoài ra, thân nghiệp và khẩu nghiệp được xem chính là một sự “biểu hiện” (vijñapti) (bên ngoài); nhưng khi ý nghiệp hành hoạt các chưa dấu hiệu ra ngoài, thì nó đã được xem chính là “không biểu hiện” (avijñapti: vô biểu). Chính “vô biểu sắc” (avijñaptirūpa) hình thành nên pháp thứ 11 trong phân chia uẩn. Mặc dù không phải vật chất, nó được phân loại như vật chất bởi vì thân nghiệp , khẩu nghiệp mà nó liên quan đến đã được phân loại như vậy.

Ba uẩn (thọ, tưởng , hành) cùng chứa 60 pháp, mà nó đã được gộp vào như chính là các đối tượng chưa phải vật chất bên trong hai phân các loại khác (xứ/āyatana, giới/dhātu; cả hai đều là số 12). Ba yếu tố chưa thể thay đổi (asaṃskṛta) và vô biểu (avijñapti) cũng được gộp vào số các pháp chưa thuộc vật chất của hai sự phân chia sau, như vậy tạo thành một tổng số 64 pháp.

Bây giờ tôi cũng sẽ mô tả 60 pháp mà chúng đã được đưa vào trong cả ba phân các loại (uẩn/skandha, xứ/āyatana, và giới/dhātu). Chúng được chia thành hai nhóm chính: một nhóm bao gồm 46 tâm sở hữu pháp (caittadharma), mà chúng sinh khởi hay là ở trong sự nối kết với thức hay tâm thanh tịnh (citta-saṃprayuk-tasaṃskāra); nhóm thứ hai bao gồm 14 pháp bất tương ưng hành, tức là các pháp mà chúng không liên hệ đến sắc cũng chưa liên hệ đến tâm (rūpa-citta-viprayukta-saṃskāra).

46 tâm sở hữu pháp bao gồm: mười tâm đại địa pháp (citta-mahābhūmika) mà chúng có mặt nơi đời sống hữu tình: 1/ thọ, 2/ tưởng, 3/ tư, 4/ xúc, 5/ dục, 6/ huệ, 7/ niệm, 8/ tác ý, 9/ thắng giải, 10/ định; mười thiện đại địa pháp (kuśala-mahābhūmika) mà chúng có mặt nơi các điều kiện thích hợp: 11/ tín, 12/ cần, 13/ xả, 14/ tàm, 15/ quý, 16/ vô tham, 17/ vô sân, 18/ bất hại, 19/ khinh an, 20/ bất phóng dật; sáu đại phiền não địa pháp (kleśa-mahābhūmika): 21/ si, 22/ phóng dật, 23/ giải đãi, 24/ bất tín, 25/ hôn trầm, 26/ trạo cử; mười tiểu phiền não địa pháp (upakleśa-bhūmika) mà chúng xảy ra vào các thời điểm khác nhau: 27/ phẫn, 28/ phú, 29/ xan, 30/ tật, 31/ não, 32/ hại, 33/ hận, 34/ xiễm, 35/ cuống, 36/ kiêu; hai bất thiện đại địa pháp (akuśala-mahabhūmika): 37/ vô tàm, 38/ vô quý; và tám pháp bất định (aniyata-bhūmika): 39/ hối, 40/ miên, 41/ tầm, 42/ tứ, 43/ tham, 44/ sân, 45/ mạn, , 46/ nghi. Tất cả 46 pháp đã được liệt kê ở trên chưa thể nối kết với (hay đóng chức năng với) tâm tại cùng thời điểm trên nguyên tắc chung rằng khuynh hướng bên trong của chúng hướng đến hoặc tốt hoặc xấu.

14 pháp bất tương ưng hành là: 47/ đắc (prāpti), hay tác lực kiểm soát dòng chảy đời sống của một người, 48/ phi đắc (aprāpti) mà nó làm ngưng lại một số yếu tố, 49/ đồng phận, 50/ vô tưởng thiền, 51/ vô tưởng định, 52/ diệt tận định, 53/ mạng căn, 54/ sanh, 55/ trụ, 56/ dị, 57/ diệt, 58/ cú, 59/ văn, , và 60/ thân. Tịnh thức hình thành nên một pháp (uẩn thứ năm, xứ thứ sáu). Ở nơi sự phân chia thành các giới (dhātu), vijñāna được phân chia nhỏ thành bảy giới (số 6 cộng 13-18) ở đó chính thức ấy được xem trong sự liên hệ đến các căn , các đối tượng không thuộc vật chất. Bổ sung tất cả các pháp điều kiện cùng với 11 pháp vật chất, một pháp đại diện thức, 46 tâm sở hữu pháp, , 14 pháp bất tương ưng – tất cả có 72 pháp. đây chính là các pháp mà ở đó toàn bộ sự hiện hữu hiện tượng được phân tích , và giải thích.

Nhất thiết hữu bộ cũng liệt kê 3 pháp chưa điều kiện: không gian (ākāśa), trạch diệt vô vi (pratisaṃkhyānirodha: giải thoát nhờ vào trí phân tích), , phi trạch diệt vô vi (apratisaṃkhyā-nirodha: giải thoát không nhờ vào trí phân tích). Như vậy, trong Nhất thiết hữu bộ, tổng số pháp có điều kiện , chưa có điều kiện là 75.

Truyền thống Theravāda liệt kê chỉ một pháp chưa điều kiện đó là Niết-bàn, , và 81 pháp điều kiện: bốn đại, bốn đại phái sinh; năm căn; năm trần; hai khía cạnh giới tính (nam và nữ); trái tim chính là yếu tố duy trì đời sống; hai các loại vô biểu sắc (avijñaptirūpa); một sức mạnh vật chất; chưa gian; ba tính chất của thân (nhanh nhẹn, linh hoạt , và uyển chuyển); ba đặc tính của các pháp có điều kiện (hình thành, duy trì, , và suy tàn); thực phẩm vật chất; 53 yếu tố tâm, bao gồm 25 thiện, 14 bất thiện và 13 trung tính; và thức.

Nhất thiết hữu bộ khẳng định rằng tất cả pháp điều kiện chính là thực có (chúng có mặt vì chúng xảy ra) , và rằng chúng có đặc tính tồn tại, kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn, , và lại biến mất để tái xuất hiện trong một hình thức mới đã được quyết định theo nghiệp. Họ cũng cho rằng các pháp tồn tại trong ba thời kỳ: quá khứ, hiện tại và tương lai.

Xem thêm: Cung Phục Vị trong hôn nhân chính là gì? Vợ chồng cung Phục Vị có tốt?

Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravāda), một chi phái thuộc Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika), xem tất cả pháp là chưa thật , và cho rằng chỉ các pháp vô vi là thật. Thuyết giả bộ (Prajñaptivāda), một chi phái khác thuộc Đại chúng bộ, cho rằng 12 xứ chính là chưa thật bởi vì chúng là sản phẩm của các uẩn, là các thực thể thực có duy nhất. Các người Kinh lượng bộ (Sautrāntika) thừa nhận sự hiện hữu của suy nghĩ nhưng bác bỏ phần lớn các pháp tương ưng , tất cả các pháp bất tương ưng hành, phủ nhận thực tại của quá khứ và tương lai, , khẳng định rằng chỉ hiện tại có mặt. Họ cũng bác bỏ sự có mặt của các pháp không điều kiện, xem chúng chỉ chính là các thứ không có mặt. Trung quán tông (Mādhyamika) bác bỏ hoàn toàn thực tại sau cùng của các pháp. Duy thức tông (Vijñānavāda) thừa nhận tâm như là thực tại duy nhất (cittamātra) , và xem tất cả sự có mặt hiện tượng là sự phản chiếu ảo ảnh của tâm. Cuối cùng, một thể thức Phật giáo nổi tiếng thể hiện khía cạnh triết học liên hệ với việc phân tích chúng sanh theo các pháp: “Bất kỳ các gì sinh khởi đến từ một nguyên nhân, Như Lai nói đến nguyên nhân của chúng, , và cũng giải thích sự chấm dứt của chúng”.

Đăng Nguyên

____________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Vasubandhu, Abhidharmakośa.

– Stcherbatsky, The Central Conception of Buddhism and the Meaning of the Word “Dharma”, Delhi, 1970.

– A Buddhist Manual of Psychological Ethics: Dhammasangani, translated by C. A. F. Rhys Davids, London, 1923. A.

– K. Warder, “Dharmas and Data”, Journal of Indian Philosophy 1 (1971), tr. 272-295.

Bhuti, Tsewang. “Klong rdol bla ma’s List of 108 Dharmas of Prajnaparamita and the Commentary.” Tibet Journal 25, no. 3 (2000): 48-68.

– Cox, C. Disputed Dharmas, Early Buddhist Theories on Existence: An Annotated Translation of the Section of Factors Dissociated from Thought from Sanghabhadra’s Nyayanusara. Tokyo, 1995.

– Dessein, Bart. “Dharmas Associated with Awarenesses and the Dating of the Sarvastivada Abhidharma Works.” Asiatische Studien 50, no. 3 (1996): 623-651.

– Frauwallner, E., S. F. Kidd, and E. Steinkellner. Studies in Abhidharma Literature and the Origins of Buddhist Philosophical Systems. Albany, 1995. Ganguly, S. Treatise on Groups of Elements: The Abhidharma-dhatukaya-padasastra: English Translation of Hsüan-tsang’s Chinese Version. Delhi, 1994.

– Mejor, M. Vasubandhu’s Abhidharmakosa and the Commentaries Preserved in the Tanjur. Stuttgart, 1991.

Xem thêm: DND chính là gì? Ý nghĩa của chế độ DND trong khách sạn cần phải biết

Tìm hiểu thêm: Có nên tắt tính năng Update Windows 10 không ? Thảo luận ngay