Hỏi đáp

các tiến bộ gần đây về hiểu biết và xử trí adenomyosis

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh –

Adenomyosis chính là một rối loạn TC lành tính, trong đó các tuyến NMTC , mô đệm được xem chính là bệnh lý ở NMTC , đã được xếp loại trong các nguyên do thực thể của chảy máu TC bất thường ( AUB: Abnormal Uterine Bleeding) trong phân loại theo Liên đoàn quốc tế Sản Phụ khoa (FIGO: International Federation of Gynecology and Obstertrics) PALM-COEIN (polype; adenomyosis; leiomyoma; malignancy and hyperplasia; coagulopathy; ovulatory dysfunction; endometrial; iatrogneic; and not yet classfied ). Trước đây, adenomyosis được xem là bệnh lý phụ khoa của các phụ nữ đa sản, > 40 tuổi, cường kinh nặng đã được chẩn đoán khi cắt TC, nhưng ngày nay dịch tễ học đã hoàn toàn thay đổi. Adenomyosis ngày càng thấy nhiều ở các nữ giới trẻ bị đau, AUB, vô sinh, hoặc không có triệu chứng chỉ bằng cách sử dụng các kỹ thuật hình ảnh như siêu âm ngã âm đạo và cộng hưởng từ. Tuy nhiên, chưa có thống số 1 chung về định nghĩa , và phân loại các tổn thương adenomyosis đến từ mô bệnh học và chẩn đoán hình ảnh. Một hệ thống báo cáo được chia sẻ , và thống số 1 cần đã được triển khai để cải thiện sự hiểu biết về các đặc điểm hình ảnh, mối quan hệ của chúng với cơ chế gây bệnh, chứng lâm sàng , và đáp ứng với điều trị. Trên thực tế, sinh bệnh học adenomyosis vẫn khó nắm bắt , chưa một giả thuyết nào có thể giải thích tất cả các kiểu hình khác nhau của bệnh. Hơn nữa, adenomyosis thường cùng tồn tại với các tình trạng phụ khoa khác, chẳng hạn như lạc nội mạc TC , u xơ TC, thực hiện tăng tính chưa đồng số 1 của nghiên cứu đã được báo cáo.

Bạn đang xem: Adenomyosis là gì

aden

Bạn đang đọc: các tiến bộ gần đây về hiểu biết và xử trí adenomyosis

GIỚI THIỆU

Phụ nữ bị adenomyosis có thể có chứng AUB, đau bụng kinh, đau khi giao hợp, hoặc vô sinh nhưng 1/3 trong số đó không có triệu chứng. Trong nhiều năm, adenomyosis vẫn là một chẩn đoán mô bệnh học được thực hiện sau phẫu thuật cắt TC ở nữ giới quanh mãn kinh bị chảy máu kinh nguyệt nặng (HMB) hoặc đau vùng chậu. Trong thập kỷ qua, nhờ các tiến bộ trong kỹ thuật hình ảnh,, adenomyosis cũng đã được xác định ở nữ giới trẻ tuổi mặc dù một định nghĩa và phân loại chung vẫn còn thiếu . Mặc dù đã cải thiện các dụng cụ chẩn đoán, nhận thức về tình trạng này vẫn còn thiếu. Hơn nữa, ở một vài bệnh nhân, adenomyosis cùng tồn tại với các tình trạng phụ khoa khác, chẳng hạn như lạc NMTC , u xơ TC . các cơ chế sinh lý bệnh lý, liên quan đến hoóc môn steroid giới tính, viêm, xơ hóa , phát sinh thần kinh, không đã được hiểu đầy đủ . Liên quan đến việc quản lý hiện tại của adenomyosis, chưa có phác đồ nào chuẩn số 1 để hướng dẫn phẫu thuật hoặc chữa trị adenomyosis , điều này vô cùng quan trọng trong tương lai vì bệnh cần có kế hoạch quản lý suốt đời, bao gồm kiểm soát đau , chảy máu, bảo tồn khả năng sinh sản, , và kết cục thai kỳ.

SINH BỆNH HỌC

Theo giả thuyết phổ biến nhất, adenomyosis là kết quả của sự xâm lấn của nội mạc cơ sở vào NMTC thông qua vùng kết nối (JZ: junctional zone) bị thay đổi hoặc gián đoạn, liên quan đến đáp ứng với hormone chuyên biệt nằm ở 1/3 lớp bên trong của NMTC. Sự thay đổi phân tử trong NMTC lạc chỗ góp phần di cư , sống sót của cấy ghép NMTC ngoài vùng giao diện NMTC. Có nhiều giải thích liên quan đến phản ứng tế bào, đáp ứng hormone steroid , và con đường ngoại bào trong tổn thương tuyến cơ , và NMTC lạc chỗ. Ngoài ra, còn có giả thuyết liên quan vai trò của chấn thương , sửa chữa trị mô (TIAR) là cơ chế chính cho sự xâm lấn của NMTC.Các cơn co thắt NMTC mãn tính có thể gây nên vi sang chấn thường xuyên cho vùng kết nối, gây viêm, đến từ đó thúc đẩy sản xuất estrogen tăng cục bộ, gây ra một vòng luẩn quẩn. Do đó, giả thuyết TIAR nhấn mạnh tầm quan trọng của tổn thương mô đối với giao diện NMTC, adenomyosis có liên quan đến đa nhân xơ, mổ lấy thai trước đó , và phẫu thuật TC trước .

Tìm hiểu thêm: Lợi Ích Kinh Tế Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Lợi Ích Kinh Tế – Tìm Việc làm

Một giả thuyết khác về adenomyosis đề xuất rằng căn bệnh này phát sinh từ chuyển sản của tế bào gốc phôi thai . Phần còn lại của phôi thai chính là ống Müllerian có thể trải qua các thay đổi ở thành TC trưởng thành, dẫn đến việc thành lập mô NMTC như chính là khối u tuyến NMTC.

Tuy nhiên, sự biệt hóa tế bào gốc NMTC và sự di chuyển vào NMTC sau khi có kinh nguyệt ngược dòng cũng được nhắc đến. Chapron và cộng sự đưa ra giả thuyết về sự di chuyển của các tế bào NMTC ngoài TC từ các nốt lạc NMTC sau vào NMTC . Giả thuyết này đã được ủng hộ bởi tỷ lệ mắc bệnh adenomyosis khu trú phía sau (FOAM) đã được tìm thấy ở các bệnh nhân có các nốt lạc NMTC xâm nhập sâu ở khoang sau và đã được chẩn đoán bằng hình ảnh cộng hưởng từ (MRI). Sau khi có kinh ngược dòng, các tế bào NMTC có thể có nguy cơ xâm nhập không các các cơ quan vùng chậu mà cả trên thành TC.

DỊCH TỂ HỌC

Trong lịch sử, adenomyosis đã được xác định chính là một bệnh lý thực thể đến từ các báo cáo mô học sau khi cắt bỏ TC. Tuy nhiên, hiện tại, chỉ có một nhóm nhỏ phụ nữ trải qua các phương pháp chữa trị phẫu thuật không bảo tồn để chữa trị adenomyosis; do đó, ngày nay đã có các quan niệm mới về dịch tể học.

Yếu tố nguy cơ phổ biến bao gồm tuổi >40, đa sản, vết mổ cũ hoặc phẫu thuật TC trước đó và bệnh ngày càng đã được chẩn đoán ở phụ nữ trẻ, hiếm muộn và thống kinh hoặc AUB. Tuy nhiên, cần để ý rằng 1/3 số bệnh nhân mắc bệnh adenomyosis không có triệu chứng. Ở các phụ nữ hỗ trợ sinh sản (ART) tỷ lệ mắc bệnh adenomyosis chính là 20% đến 25% và trong khi ở các người có tiền sử lạc NMTC, tỷ lệ dao động đến từ 20% đến 80% . Dữ liệu đến từ các đơn vị siêu âm nhận thấy adenomyosis chiếm tỷ lệ 20,9% các dấu hiệu siêu âm trong dân số và trong khi các chẩn đoán mô học sau phẫu thuật cắt TC dao động từ 10% đến 35%. Tuy nhiên, cần thống nhất các tiêu chuẩn chẩn đoán trong mô bệnh học và hình ảnh để chuẩn hóa các chẩn đoán , và có các số liệu cập nhật đáng tin cậy.

ĐỊNH NGHĨA VÀ CHẨN ĐOÁN ADENOMYOSIS

Mô học

Tham khảo thêm: Cách các loại bỏ password khi vào máy tính khác trong mạng LAN

Tiêu chuẩn vàng để đưa ra chẩn đoán cuối cùng về adenomyosis chính là kiểm tra mô học của mẫu phẫu thuật cắt TC .Năm 2009, Weiss , cộng sự tuyên bố adenomyosis chính là một phát hiện ngẫu nhiên ở nữ giới trải qua phẫu thuật cắt TC mà không có chứng lâm sàng của bệnh.Tình trạng này thường đã được mô tả chính là sự hiện diện của các tuyến NMTC và mô đệm nằm sâu bên trong NMTC, liên quan đến tăng sản cơ trơn . Điều này chính là do sự xâm lấn của NMTC bởi các tuyến cơ với sự phá hủy kiến ​​trúc NMTC bình thường. Tuy nhiên, không có tiêu chí thống số 1 về độ sâu xâm lấn , số lượng ổ để chẩn đoán adenomyosis, đặc biệt chính là khi bệnh không lan tỏa. Trong các bài báo trước đây, adenomysosis đã được chẩn đoán khi 1/3 độ dày của TC bị xâm lấn, trong khi một vài ý kiến khác chẩn đoán adenomyosis khi NMTC bị xâm lấn >4mm. Liên quan đến phân loại mô học, adenomyosis có thể phân thành khu trú, lan tỏa hay dạng nang.

Khu trú (adenomyoma): gọi chính là u tuyến cơ, LS giống u cơ trơn TC, nhưng không có lớp phân cách để bóc táchLan tỏa ( diffuse) : TC lớn đồng bộ toàn thể, ở trên diện cắt ngang qua TC, thành cơ TC rất nhiều dày và có các ổ xuất huyết nhỏ tẩm màu chocolat đặc trưngNang ( cyst) : hiếm thấy, mô tả tình trạng nang LTNMTCCTC trong lan tỏa hoặc u tuyến cơ có kích thước >= 1cm phát hiện nhờ chẩn đoán hình ảnh

Chẩn đoán hình ảnh

Sự phát triển của các kỹ thuật hình ảnh, chẳng hạn như MRI , siêu âm qua ngã âm đạo (TVUS), đã cho phép các bác sĩ lâm sàng đưa ra chẩn đoán chưa xâm lấn ở phụ nữ mắc adenomyosis.

Siêu âm qua ngã âm đạo . Độ nhạy của TVUS để phát hiện adenomyosis dao động đến từ 65% đến 81% và độ đặc hiệu dao động từ 65% đến 100%. Một phân tích tổng hợp gần đây, kết quả tổng hợp đến từ 08 nghiên cứu, cho thấy TVUS hai chiều có độ nhạy , độ đặc hiệu tương ứng chính là 83,8% , và 63,9% và đối với TVUS ba chiều, độ nhạy , độ đặc hiệu tương ứng chính là 88,9% và 56,0%. Gần đây, một báo cáo đã được chuẩn hóa thống số 1 về kết quả siêu âm của adenomyosis chỉ bằng cách sử dụng tiêu chí đánh giá hình ảnh TC được mô tả như sau:

Sự dày lên chưa đối xứng của thành TCCác nang nhỏ NMTC.Bóng hình rẻ quạt của NMTC.Vùng tăng âm cơ TC.các đường phản âm dưới NMTC.Mạch máu xuyên qua tổn thương.Vùng nối không đồng nhấtGián đoạn vùng nối.

aden2

Hình ảnh siêu âm ngã âm đạo trong Adenomyosis

Van den Bosch , và de Bruijn , và cộng sự đã đưa ra một hệ thống mô tả bao gồm vị trí (trước, sau, bên trái, bên phải , bên dưới), phân loại các tổn thương khu trú hoặc lan tỏa, hiện diện hoặc không có nang bên trong, sự hiện diện của lớp NMTC (JZ), mức độ xâm lấn (< 25%, 25%- 50% , > 50% thể tích TC bị tác động bởi adenomyosis) , và kích thước tổn thương. Trước đây, Naftalin và cộng sự cho thấy mối tương quan giữa số lượng các đặc điểm siêu âm của adenomyosis , mức độ nghiêm trọng của đau bụng kinh, nhưng chưa có bằng triệu chứng nào cho thấy các đặc điểm có liên quan đến từ góc độ lâm sàng. Gần đây, một hệ thống tính điểm để xác định mức độ nguy hiểm của adenomyosis được đề xuất; tương tự, Tellum , cộng sự đã phát triển một mô hình dự đoán lâm sàng để xác định bệnh chỉ bằng cách sử dụng các tính năng hợp lý nhất. Tuy nhiên, các mô hình đó cần đã được xác nhận và cần nhiều bằng triệu chứng cũng sẽ trợ giúp độ tin cậy của chúng.

Hình ảnh cộng hưởng đến từ . Chẩn đoán MRI của adenomyosis về cơ bản có liên quan đến sự dày lên của JZ, bao gồm các dấu hiệu trực tiếp và gián tiếp về sự hiện diện của các tuyến NMTC trong NMTC , và phì đại tế bào cơ trơn. Adenomyosis điển hình xuất hiện dưới dạng một vùng cường độ tín hiệu thấp không phân chia ở trên hình ảnh có đậm độ T2, đại diện cho tăng sản cơ trơn và mô NMTC lạc chỗ. các chuỗi có đậm độ T2 đóng vai trò chính trong chẩn đoán MRI của adenomyosis vì chúng làm nổi bật JZ, có độ dày tăng. Hơn nữa, trên MRI có đậm độ T2, các khu vực cường độ tín hiệu cao biểu hiện NMTC ngoài TC và có thể phát hiện các nang của NMTC. Tuy nhiên, các chuỗi có đậm độ T1 cũng góp phần vào chẩn đoán vì chúng rất nhiều hữu ích trong việc xác định các tiêu điểm cường độ tín hiệu cao biểu hiện hình ảnh xuất huyết. Việc phát hiện các ổ xuất huyết tăng sáng có giá trị tiên đoán dương tính cao (95%) trong chẩn đoán adenomyosis nhưng độ nhạy thấp (47,5%). Sự xuất hiện phổ biến của adenomyosis là một TC lớn, không đối xứng, trong đó mô tuyến NMTC nằm chủ yếu ở thành sau hoặc ở đáy TC. Để chẩn đoán adenomyosis trên MRI, các chuyên gia ghi nhận sự dày lên của JZ, và một vài tiêu chí được đề xuất (JZ ít nhất chính là 8- 12 mm, tỷ lệ JZ / thể tích TC tối đa > 40% và chênh lệch độ dày > 5 mm); tuy nhiên, độ dày JZ >12 mm có khả năng dự đoán cao về bệnh adenomyosis . Tuy nhiên, kết quả vẫn còn gây tranh cãi vì JZ có thể thay đổi dựa trên tình trạng nội tiết tố (tình trạng sau mãn kinh và sử dụng biện pháp hạn chế thai nội tiết) và giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt. Trong thời kỳ kinh nguyệt, TC có thể xuất hiện với sự dày lên rõ rệt của JZ; do đó, đánh giá MRI tốt số 1 nên được làm trong giai đoạn tăng sinh . Hơn nữa, một cạm bẫy phổ biến cần xem xét chính là do các cơn co TC thoáng qua có thể thực hiện cho JZ dày lên. Trong các trường hợp đó, việc lặp lại các tín hiệu MRI có thể giúp cho phân biệt tình trạng sinh lý với bệnh adenomyosis .

TỒN TẠI VỚI BỆNH LÝ PHỤ KHOA KHÁC

Adenomyosis thường gặp cùng tồn tại với các bệnh phụ khoa khác, chẳng hạn như lạc NMTC và u xơ TC . U xơ TC và adenomyosis cùng tồn tại trong cùng một TC trong 15% – 57% các trường hợp và gây đau vùng chậu khi mắc 2 bệnh này. Một điều tra bệnh triệu chứng trên các nữ giới trải qua phẫu thuật cắt TC nhận thấy các phụ nữ mắc bệnh ung thư bạch cầu , adenomyosis có đau bụng kinh, khó thở , đau vùng chậu không theo chu kỳ nhiều hơn so với các phụ nữ chỉ mắc bệnh ung thư bạch cầu.

Trong nhiều năm adenomyosis đã được gọi chính là lạc NMTC . Tuy nhiên, chúng đã được coi là hai thực thể khác nhau vì con đường gây bệnh cụ thể và biểu hiện lâm sàng, mặc dù chúng thường cùng tồn tại trong cùng một bệnh nhân. Kết quả phẫu thuật nhận thấy tỷ lệ mắc adenomyosis ở phụ nữ bị lạc NMTC dao động từ 20% đến 80% . Ngoài ra, đánh giá siêu âm trước khi phẫu thuật, 47,8% bệnh nhân được phẫu thuật lạc nội mạc thâm nhiễm sâu có adenomyosis , và ở các người có cùng hai bệnh trên, chữa trị phẫu thuật giảm đau không hiệu quả nhất như ở các người chỉ bị lạc NMTC. Hơn nữa, lạc NMTC thâm nhiễm sâu cũng đã được triệu chứng minh liên quan đến một dạng adenomyosis khu trú nằm ở lớp bên ngoài cơ TC. .

ẢNH HƯỞNG KHẢ NĂNG SINH SẢN

Trong một khảo sát cắt ngang gần đây ở trên nữ giới vô sinh, tỷ lệ mắc adenomyosis chính là 24,4% ở nữ giới ≥ 40 tuổi , 22% ở phụ nữ < 40 tuổi. Tỷ lệ này tăng lên 38,2% trong các trường hợp sẩy thai tái phát , 34,7% trong thất bại điều trị hỗ trợ sinh sản trước đó. một vài giả thuyết đã được đề xuất để giải thích các cơ chế cơ bản của vô sinh trong adenomyosis. Nhu động vòi TC bất thường chính là một cơ chế quan trọng dẫn đến vô sinh trong đó có sự biến dạng về mặt giải phẫu của khoang TC, rối loạn nhu động TC và vận chuyển tinh trùng. Ở các nữ giới vô sinh bị adenomyosis, NMTC nhận thấy một loạt các thay đổi phân tử, gây nên sự thay đổi thụ thể hormone. Điều này bao gồm thay đổi con đường hormone steroid giới tính, tăng dấu hiệu viêm và tăng phản ứng oxy hóa, giảm dấu hiệu của dấu hiệu cấy ghép, thiếu các phân tử bám dính và thay đổi chức năng của gen để phát triển phôi, gây suy giảm khả năng cấy ghép ở nữ giới với adenomyosis .

một vài bài báo đã đánh giá tốt nhất của adenomyosis ở nữ giới trải qua chữa hỗ trợ sinh sản hoặc ở các người đã được phẫu thuật chữa trị lạc NMTC sâu , kết quả vẫn còn gây tranh cãi. Vercellini và cộng sự (2014) nhận thấy tỷ lệ sẩy thai ở nữ giới mắc bệnh adenomyosis là 31% và 14,1% ở nữ giới chưa mắc bệnh ( RR # 2,12, 95% CI: 1,20 – 33,75).

Mavrelos , cộng sự trong một điều tra tiền cứu đa trung tâm, cho thấy xác suất mang thai lâm sàng ước tính giảm từ 42,7% ở các nữ giới không bị adenomyosis xuống 22,9% ở các người có bốn đặc điểm siêu âm adenomysis , 13,0% ở các người có tất cả bảy đặc điểm siêu âm của adenomyosis. Điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng biểu hiện một vài đặc điểm hình thái trên siêu âm, làm xấu đi kết quả sinh sản. Kết quả đến từ tổng quan hệ thống gần đây số 1 và phân tích tổng hợp về kết quả chữa IVF trong chữa trị adenomyosis, bao gồm 11 nghiên cứu , và 519 bệnh nhân chẩn đoán TVUS hoặc MRI về adenomyosis, đã xác nhận tác dụng bất lợi của bệnh lý TC đối với kết quả sinh sản . Tỷ lệ chuyển phôi, mang thai lâm sàng theo chu kỳ, mang thai lâm sàng ở trên mỗi lần chuyển phôi, tỷ lệ sinh sống ở các nữ giới mắc bệnh adenomyosis đã giảm đáng kể, trong khi đó tỷ lệ sẩy thai gia tăng. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng một chữa trị trước IVF với việc sử dụng GnRHa đồng vận có thể có lợi cho tỷ lệ mang thai .

Xem thêm: Sa Trung Thổ là gì, sinh năm nào, hợp màu gì, khắc mệnh gì?

Liên quan đến mối liên quan giữa lạc NMTC với adenomyosis và nguy cơ sinh sản, kết quả đến từ một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp năm 2014 nhận thấy nữ giới sau phẫu thuật điều trị lạc NMTC trực tràng , và đại trực tràng giảm 68% khả năng mang thai ở phụ nữ. Trong một đoàn hệ hồi cứu gần đây ở nữ giới trải qua IVF, sự hiện diện của adenomyosis tác động đến tỷ lệ mang thai lâm sàng, tỷ lệ sinh sống , và tỷ lệ sẩy thai. Đặc biệt, so với các nữ giới bị lạc NMTC đơn thuần, các người bị ảnh hưởng bởi adenomyosis có tỷ lệ mang thai lâm sàng thấp hơn đáng kể (26,4% so với 12,5%) , tỷ lệ sinh sống (26,4% so với 12,5%). Kết quả tương tự đã được báo cáo ở các phụ nữ bị lạc NMTC , và adenomyosis 71 .

Tất cả các bằng chứng này đã cho thấy adenomyosis tác động đến kết quả sinh sản; và điều cần thiết là xác định các tiêu chí nghiêm ngặt để chẩn đoán hình ảnh , phân loại adenomyosis. Điều này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng đánh giá xem mức độ nghiêm trọng và mức độ của bệnh có ảnh hưởng đến sinh sản hay là không, đến từ đó xác định các lựa chọn chữa để cải thiện nguy cơ sinh sản ở bệnh nhân mắc bệnh adenomyosis.

ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ MANG THAI

Adenomyosis đã được coi chính là một rối loạn sinh sản và cho thấy không chỉ ảnh hưởng đến nguy cơ sinh sản mà đến cả kết quả mang thai. Người ta nhận thấy phụ nữ có adenomyosis tăng khả năng sinh non (tỷ số chênh aOR # 1,84, KTC 95% 1,32 – 4.31) , vỡ ối non (aOR #1.98, 95% CI 1.39- 3.13) . các kết quả này được xác nhận trong một nhóm nhỏ nữ giới được chẩn đoán chỉ bằng siêu âm hoặc MRI trước khi mang thai, nhận thấy khả năng sinh mổ cao hơn đáng kể (OR # 4.5, 95% CI 2.1- 9.7), thai nhỏ hơn tuổi thai (OR #4,3 và 95% CI 1.8- 10.3), băng huyết sau sinh (OR #6.5, 95% CI 2.2 – 19.0) và ngôi bất thường (OR #4.2, 95% CI 1.6-10.8) . Hơn nữa, một khảo sát hồi cứu bệnh- triệu chứng gần đây cho thấy rằng adenomyosis cũng liên quan đến tăng khả năng sẩy thai trong tam cá nguyệt thứ hai (OR #11.2, 95% CI 2.2 -71.2), tiền sản giật (OR #21. 95% CI 4.8- 124,5) và ngôi bất thường (OR #4,9; 95% CI 1,4- 16.3) . Loại adenomyosis có thể ảnh hưởng đến kết quả mang thai, như thể hiện ở tỷ lệ tăng huyết áp do mang thai , nhiễm trùng TC cao hơn ở các bệnh nhân bị adenomyosis lan tỏa so với bệnh nhân bị adenomyosis khu trú. Một khảo sát đoàn hệ trên toàn quốc của Nhật Bản được công bố adenomyosis là một yếu tố nguy cơ sinh non đối với thai <37 tuần (aOR #2,49; 95% CI 1,89- 3,43), sinh non <34 tuần (aOR #1,91, 95% CI 1,02- 3,55), cân nặng trẻ khi sinh <2500 g (aOR #1,83; 95% CI 1,36- 2,45), cân nặng khi sinh <1500 g (aOR # 2,39; 95% CI 1.20- 4.77) , trẻ sơ sinh cân nặng nhỏ hơn tuổi thai (aOR #1.68; 95% CI 1.13- 2.51).

Các giả thuyết về viêm, tăng sản xuất tuyến NMTC, thay đổi áp lực trong buồng TC được xem chính là yếu tố liên quan đến sinh non. Trong adenomyosis, sự kích hoạt viêm tại chỗ , và toàn thân có thể tác động đến sự làm tổ của phôi gây sẩy thai hoặc sinh non. Sự tái tạo động mạch xoắn của NMTC bị khiếm khuyết và biểu hiện thâm nhiễm sâu đã được xem là một trong các nguyên do chính gây ra bệnh lý sản khoa liên quan đến rối loạn tuần hoàn nhau thai trong bệnh adenomyosis. Trên thực tế, nhiều điều tra ghi nhận các thay đổi ở NMTC , và JZ của TC. Tuy nhiên, cần nghiên cứu sâu hơn về dịch tễ học , sinh lý bệnh. Trên thực tế, những điều tra đã được tiến hành tốt chỉ có thể đã được thực hiện nếu cùng thống nhất về tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh , cùng hệ thống phân các loại để chẩn đoán trước khi mang thai của adenomyosis.

XỬ TRÍ ADENOMYOSIS

Adenomyosis có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của phụ nữ vì AUB , và đau, do đó cần có kế hoạch quản lý suốt đời thông qua chữa nội khoa hoặc phẫu thuật. Sự chọn lựa tùy thuộc vào tuổi của người phụ nữ, tình trạng sinh sản và các chứng lâm sàng. Cho đến nay, rất ít điều tra lâm sàng tập trung vào điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật adenomyosis , chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho adenomyosis . Tuy nhiên, bệnh ngày càng được chẩn đoán ở phụ nữ trẻ có nhu cầu sinh sản, và phương pháp điều trị bảo tồn nên đã được ưu tiên.

Phương pháp phẫu thuật vẫn chính là một chủ đề gây tranh cãi, điều trị phẫu thuật xâm lấn tối thiểu nên được thực hiện trong các trường hợp cụ thể, thông báo cho bệnh nhân về các rủi ro tiềm ẩn trong trường hợp mang thai. các chọn lựa phẫu thuật bảo tồn bao gồm phẫu thuật giảm khối, nội soi cắt bỏ adenomyosis, siêu âm cường độ cao tập trung , và thuyên tắc động mạch TC. Tuy nhiên, các bằng triệu chứng mạnh mẽ hỗ trợ chữa trị phẫu thuật bảo tồn adenomyosis vẫn còn thiếu.

một vài phương pháp điều trị nội tiết , chưa nội tiết đã được sử dụng để kiểm soát đau, chảy máu và để cải thiện kết quả sinh sản. Việc sử dụng GnRHa được chỉ định trước khi chữa trị hỗ trợ sinh sản cải thiện cơ hội mang thai ở các phụ nữ vô sinh bị adenomyosis, và tỷ lệ mang thai cao số 1 đã được báo cáo ở các người trải qua chuyển phôi trữ đông sau khi chữa trị GnRHa trước đó . Ngược lại, việc sử dụng GnRHa để giảm đau , và chảy máu chỉ nên đã được xem xét khi chữa ngắn hạn vì ảnh hưởng mãn kinh.

Việc sử dụng progestin có tác dụng chống tăng sinh , chống viêm, sau đó thực hiện teo mô NMTC, thực hiện giảm chảy máu đáng kể. Trong các loại progestin, norethisterone acetate (NETA), danazol âm đạo , dienogest (DNG) được chỉ định cho điều trị nội khoa. Gần đây, một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm, kiểm soát giả dược ở trên DNG, được làm hàng ngày trong 16 tuần ở các phụ nữ mắc bệnh adenomyosis, nhận thấy giảm đáng kể điểm đau ở các người đã được điều trị. Kết quả một điều tra điều trị dài hạn chứng minh khả năng dung nạp tốt, giảm đau , và chất lượng cuộc sống cao hơn khi điều trị DNG. Dụng cụ TC giải phóng levonorgestrel (LNG-IUS) cũng là một phương pháp chữa hiệu quả, có thể sử dụng lâu dài để chữa trị thành công adenomyosis. Kết quả cho thấy giảm chảy máu kinh nguyệt, đau , và thực hiện nhỏ TC , tỷ lệ bệnh nhân hài lòng là 72% . Tuy nhiên, loại thuốc mới, như chất điều chế thụ thể progesterone chọn lọc, chất ức chế aromatase, axit valproic , liệu pháp chống tiểu cầu, đang đã được nghiên cứu để chữa trị bệnh adenomyosis.

KẾT LUẬN

Trong thập kỷ qua, một sự cải thiện đáng kể đã đạt đã được trong sự hiểu biết , xử trí bệnh adenomyosis. Adenomyosis đã trở thành một thực thể lâm sàng thay vì chỉ là chẩn đoán mô học , nó có thể đã được xác định thông qua các kỹ thuật hình ảnh chưa xâm lấn. Nhiều chỉ bằng chứng ngày càng cho thấy các phương pháp chữa trị mới liên quan đến cơ chế gây bệnh adenomyosis. Tuy nhiên, vẫn cần có sự thống nhất các tiêu chí chẩn đoán trong hình ảnh và mô học để xác định tất cả các kiểu hình lâm sàng , hình ảnh của adenomyosis. Đây là bước đầu để chia sẻ một ngôn ngữ chung giữa các chuyên gia và bác sĩ lâm sàng cùng thống nhất một tiêu chuẩn chẩn đoán.

aden3

Nguồn:

1.Recent advances in understanding and managing adenomyosis Silvia Vannuccini, Methodology, Writing – Original Draft Preparation, Writing – Review & Editing and Felice Petraglia, Supervision, Writing – Review & Editing

Tham khảo thêm: Số Token của Techcombank là gì vậy? dùng để thực hiện gì? – Tài Chính Kinh Doanh Vozz

Bạn thấy bài viết thế nào?

Tìm hiểu thêm: Usim Là Gì