Hỏi đáp

Niết bàn là gì

> Đức Phật dạy Pháp Niết bàn tức khắc

Niết bàn, theo tiếng Sanscrit chính là Nirvana, tiếng Pali là Nibhana. Học giả Đoàn Trung Còn giải thích: Niết bàn là “cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não , và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái”, , và theo lối triết tự thì: “Niết (Nir): ra khỏi, Bàn hay Bànna (Vana): rừng, tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não”. Pháp sư Huyền Trang triết tự Niết bàn – Nirvana như sau: 1, Nir: ra khỏi, ly khai; vana: con đường vòng vèo, quanh quẩn, đổi thay. Nirvana chính là ly khai con đường quanh quẩn, chuyển dịch (bứt vòng sinh tử luân hồi); 2, Nir: không; vana: hôi tanh, dơ bẩn, Nirvana là không hôi tanh, dơ bẩn (thanh tịnh, trong sạch); 3, Nir: xa lìa, đào thải; vana: rừng rậm, Nirvana chính là xa lìa rừng rậm (đào thải các phiền tạp của đời sống)..

Niết bàn chính là gì

Con người chỉ được giải thoát khi nào tắt dòng năng lượng, chấm dứt nghiệp báo luân hồi.

Bạn đang đọc: Niết bàn là gì

Mặc dù các cách hiểu này không đồng số 1 song đều có chung một nghĩa căn bản: Niết bàn chính là sự đoạn trừ dục vọng, dứt nghiệp báo luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối. Đó là sự ngưng đọng vĩnh cửu của không – thời gian trong cõi tâm linh sâu thẳm của con người. Như vậy, Niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc có vị trí không – thời gian như thiên đường của Thiên Chúa giáo, mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt ái dục, xoá bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não.

Khi nói tới vấn đề con người, phần lớn các tôn giáo đều thừa nhận con người có hai phần: phần xác , phần hồn; phần xác thì tồn tại tạm thời còn phần hồn thì vĩnh cửu nên sau khi thân xác bị huỷ hoại, linh hồn phải ở nơi nào đó để đầu thai vào một thân xác mới, tiếp tục cuộc sống mới. Duy nhất có một tôn giáo – triết học Phật giáo chưa thừa nhận có linh hồn bất tử, bởi thế cũng không cần có một chưa gian địa lý cho linh hồn cư ngụ. Đích của giải thoát trong Phật giáo không phải chính là lên Thiên đường, trở về với Chúa mà chính là sự tận diệt cái cá thể đầy các ham muốn dục vọng với sự u tối của kiếp người để đạt tới Niết bàn.

Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ cũng sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần.

Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ cũng sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi chưa bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần.

Tìm hiểu thêm: Tắc bóng là gì? các pha tắc bóng đỉnh cao của các siêu hậu vệ

Thực ra, khái niệm Niết bàn chưa phải chính là sản phẩm riêng của Phật giáo. Kinh Upanishad trong Ấn Độ cổ đại đã dùng khái niệm này để chỉ trạng thái hoà nhập của linh hồn cá nhân (Atman) vào với linh hồn vũ trụ (Brahman), của tiểu ngã vào với đại ngã. Ở đây, Niết bàn đã được đồng số 1 với linh hồn vũ trụ Brahman. Tới Phật giáo, khái niệm Niết bàn mang một nội dung mới mẻ , độc đáo hơn so với khái niệm Niết bàn trong Upanishad.

Xem thêm: Featured Images là gì? Hướng dẫn đổi kích thước WordPress featured image

Kinh Phật nói như thế nào về Niết bàn? Đã nhiều lần học trò của Phật hỏi ông về khái niệm này. Ông thường tránh không trả lời hoặc đáp rằng: “Cái gì ta không bộc lộ cũng sẽ không bao giờ được bộc lộ”. Có gì bí mật trong khái niệm trừu tượng, siêu nghiệm này? Không thể nói về Niết bàn chỉ bằng ngôn đến từ được. Ngôn từ cũng sẽ trơn trượt, bất khả thuyết về cái bản thể tuyệt đối ấy. Trong Ngũ bộ kinh, có tới 32 từ có nghĩa tương đương với Niết bàn như: “đáo bỉ ngạn” (bờ bên kia), “đích cao cả”, “hoàn thành”, “chân lý”, “đăng minh”, “an lạc”, “giải thoát”… Đặc biệt, trong Kinh Niết bàn, khái niệm này đã được đề cập bằng ngôn ngữ phủ định: “vô sinh”, “khổ diệt”, “vô minh diệt”, “ái diệt”, “vô uý”, “vô tác”, “vô ám”, “vô ngại”, “vô xuất”…

Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng chính là Niết bàn, “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”, “Diệt hẳn, mát mẻ, dứt bặt, gọi là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”...

Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng là Niết bàn, “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”, “Diệt hẳn, mát mẻ, dứt bặt, gọi chính là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”…

Trong lôgíc học và ngôn ngữ học, cách định nghĩa thông thường chính là quy một khái niệm nhỏ vào một khái niệm lớn hơn rồi chỉ ra các đặc điểm riêng biệt của nó (Định nghĩa qua giống gần gũi , khác biệt về loài). Chẳng hạn, muốn định nghĩa về “tam giác đều”, trước hết phải quy về khái niệm “tam giác”, rồi sau đó chỉ ra đặc điểm riêng của tam giác đều để phân biệt với các loại tam giác khác (có ba cạnh hoặc ba góc chỉ bằng nhau). Tuy vậy, với các khái niệm rộng, chưa còn khái niệm nào rộng hơn nữa (phạm trù) thì có một cách định nghĩa độc đáo chính là đặt khái niệm đó trong quan hệ với khái niệm đối lập.

Trong triết học, có các phạm trù đã được định nghĩa theo cách này (phạm trù vật chất,…). Trong giáo lý nguyên thuỷ, Phật đã dùng cách định nghĩa độc đáo này, đó là đem đối lập Niết bàn với thế giới thực tại. Nếu thế giới thực tại là khổ thì Niết bàn là “khổ diệt”, nếu thế giới thực tại chính là “bờ bên này (bỉ ngạn) thì Niết bàn chính là “bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn), thế giới thực tại chính là mê lầm, không sáng suốt (“vô minh”) thì Niết bàn chính là sáng suốt (“vô minh diệt”)… có khả năng tìm thấy rất nhiều nhiều đoạn trong kinh Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng là Niết bàn, “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”, “Diệt hẳn, mát mẻ, dứt bặt, gọi là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”, “Đấy là sự chấm dứt rốt ráo của chính dục vọng, vứt bỏ nó, thoát khỏi nó, dứt khỏi nó”. Phật ví sự tiếp nối giữa các đời trong vòng luân hồi như sự cháy tiếp nối của các cây nến. Cây nến này tàn, cây nến khác lại được thắp lên. Sức nóng hay năng lượng của cây nến cũ đã truyền sang cây nến mới. Giống như vậy, năng lượng của nghiệp truyền qua các đời. Con người chỉ đã được giải thoát khi nào tắt dòng năng lượng, chấm dứt nghiệp báo luân hồi.

Niết bàn là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường - lạc - ngã - tịnh, trái ngược với vô thường - khổ - vô ngã - bất tịnh của thế giới thực tại.

Niết bàn chính là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường – lạc – ngã – tịnh, trái ngược với vô thường – khổ – vô ngã – bất tịnh của thế giới thực tại.

Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ cũng sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần. Phật hỏi: “Lửa đi về đâu?”, “Không! Nó chỉ tắt”. Phật nói rằng, đó chính là điều xảy ra cho người giác ngộ. Dục vọng là nhiên liệu cho ngọn lửa cháy, truyền năng lượng qua các kiếp luân hồi triền miên. Nếu không nuôi dưỡng ngọn lửa đó nữa, nghĩa là chưa còn dục vọng, nó sẽ lụi tàn. Khi đó, Niết bàn được hiểu như sự thanh lương, mát mẻ.

Đôi khi, Phật nói tới Niết bàn như là cái chưa sinh, chưa tăng trưởng , và không giới hạn. Trong Kinh Trung bộ, Niết bàn đã được đồng nhất với chân lý tuyệt đối, vượt khỏi các ý niệm nhị nguyên, tương đối.

Về thực chất, Niết bàn trong Phật giáo chính là một khái niệm phi thời gian, phi chưa gian, vô định về mọi mặt, không có điểm khởi đầu , và cũng chưa có hồi kết thúc. Vậy, có khả năng tìm thấy Niết bàn ở đâu khi Niết bàn chưa ở trong một chưa – thời gian cụ thể? Phật trả lời rằng, có khả năng tìm thấy Niết bàn chưa phải ở nơi tận cùng của thế giới mà ở ngay trong tấm thân một thước mấy của con người.

Thoát khỏi cái bản ngã là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì cũng sẽ chưa thoát khỏi các khổ đau nhân thế.

Thoát khỏi cái bản ngã là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì sẽ chưa thoát khỏi các khổ đau nhân thế.

Cấu Trúc và Phương Pháp dùng INCLUDING trong Tiếng Anh

Theo Phật, chính tư duy sai lầm đã ngăn cách không cho con người thấy được Niết bàn trong thực tại. Bởi thế, để đạt được Niết bàn, trước hết, con người phải khắc phục các sai lầm trong nhận thức của mình, thoát khỏi vô minh, giác ngộ được lẽ “vô thường” và “vô ngã”. Niết bàn chính là “vô ngã”: “Niết bàn chính là cái gì tuyệt đối không dung ngã. Niết bàn không có hạn lượng, chưa có nơi chốn, vì Niết bàn là vô tướng – vô tướng nên khó vào. Muốn vào Niết bàn ta cũng phải vô tướng như Niết bàn. Cửa Niết bàn rất nhiều hẹp, chỉ bằng tơ tóc, nên ta không thể mang theo hành lý mà hy vọng vào được Niết bàn. Cái thân đã không mang theo được, mà cả ý niệm về tôi, về ta cũng chưa thể mang theo được. Cái ta càng to thì càng xa Niết bàn. Nên biết rằng: hễ hữu ngã chính là luân hồi mà vô ngã chính là Niết bàn”.

Thoát khỏi cái bản ngã chính là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì sẽ chưa thoát khỏi các khổ đau nhân thế. Niết bàn là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường – lạc – ngã – tịnh, trái ngược với vô thường – khổ – vô ngã – bất tịnh của thế giới thực tại. Walpola Rahula đã phân tích khá sâu sắc trạng thái này: “Người đã chứng ngộ chân lý, Niết bàn là người hạnh phúc số 1 trần gian. Người ấy đã thoát khỏi mọi mặc cảm , và ám ảnh, mọi phiền não , lo âu làm cho các người khác bị điêu đứng. Sức khoẻ và tinh thần của người ấy thật hoàn toàn. Họ chưa hối tiếc quá khứ cũng không mơ mộng về tương lai. Họ sống hoàn toàn trong hiện tại. Bởi thế họ thưởng thức , và vui hưởng sự vật một cách thuần tuý, không dự phóng. Họ vui vẻ, hoan hỷ thưởng thức sự sống thuần khiết, sáu giác quan khinh an, chưa lo lắng, bình thản , thanh thoát.

Vô dư Niết bàn là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn xuất thế hay là còn gọi là Đại Niết bàn.

Vô dư Niết bàn chính là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn xuất thế hay là còn gọi là Đại Niết bàn.

Vì họ giải thoát khỏi dục vọng ích kỷ, thù hận, vô minh, kiêu căng ngã mạn và trên cả các thứ bất tịnh xấu xa ấy. Họ trong sạch, đến từ hoà, đầy lòng thương bao quát, đến từ bi, tử tế, thiện cảm và khoan dung. Họ phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì chưa còn nghĩ gì về mình. Họ chưa kiếm chác, tích chứa gì ngay cả các gì thuộc địa hạt tâm linh, bởi họ thoát ra khỏi cái tôi , lòng khao khát trở thành…”.

Nhìn chung, Phật giáo thường đề cập tới hai hình thức cơ bản của Niết Bàn: Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn. Hữu dư Niết bàn là Niết bàn tương đối, Niết bàn tại thế: nghĩa là, Niết bàn đạt đã được khi thể xác vẫn còn tồn tại Tuy vậy tâm đã thoát khỏi vòng luân hồi bất tận. Người đó tuy còn sống Tuy vậy mọi phiền não được diệt, ba nọc độc tham – sân – si đã tiêu trừ. Bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đạt tới Hữu dư Niết bàn khi ông 35 tuổi, lúc nhìn thấy sao mai mọc, sau 49 ngày ngồi dưới gốc cây bồ đề để chiêm nghiệm về chân lý. 45 năm còn lại của cuộc đời, mặc dầu tâm đã xoá đã được vô minh, phiền não song ông vẫn chưa thoát khỏi sinh – lão – bệnh – tử.

Hữu dư Niết bàn , Vô dư Niết bàn đều chỉ về trạng thái tâm linh thanh tịnh tuyệt đối, tự do tự tại của con người.

Hữu dư Niết bàn , và Vô dư Niết bàn đều chỉ về trạng thái tâm linh thanh tịnh tuyệt đối, tự do tự tại của con người.

Vô dư Niết bàn là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn xuất thế hay còn gọi là Đại Niết bàn. Kinh Bản sinh giải thích: “Thế nào là Vô dư Niết bàn?… Đó là trạng thái đã triệu chứng được La Hán, hết sạch các phiền não, phạm hạnh đã được thành lập, việc cần thực hiện đã thực hiện đủ, đã vứt bỏ mọi gánh nặng, đã triệu chứng tự nghĩa, đã khéo giải thoát, được biết khắp. Tất cả các điều cảm thụ bây giờ đều không còn do nhân dẫn đến, chưa còn mong cầu, hy vọng cũng hết, rốt ráo tịch lặng, vĩnh viễn trong mát, ẩn lặng không hiện, chỉ y vào cái thanh tĩnh không lý luận, không thể bảo rằng có, cũng chẳng thể nói rằng chưa mà cũng không cho rằng chẳng có chẳng không”. Vô dư Niết bàn chỉ đạt được khi đã chấm dứt sự tồn tại của thân xác.

Xét về mặt bản chất, Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn đều chỉ về trạng thái tâm linh thanh tịnh tuyệt đối, tự do tự tại của con người. Điểm khác biệt là ở chỗ, Niết bàn đó đạt đã được khi thân thể còn sống hay đã chết mà thôi.

Công nghiệp dược phẩm Việt Nam tăng trưởng cao số 1 châu Á

Tìm hiểu thêm: [SỰ THẬT] Ants land là gì? App rửa tiền ANTS LAND có lừa đảo, đa cấp không?