Hỏi đáp

Truyền hình là gì vậy? Phân loại, đặc trưng, các yếu tố cơ bản

1. Khái niệm truyền hình

Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện.

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX , và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, gây nên một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành vũ khí, dụng cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực kinh tế xã hội. Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là dụng cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quy trình quản lý , và giám sát xã hội, tạo lập và định hương dư luận, giáo dục , phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác.

Bạn đang xem: Truyền hình chính là gì

Bạn đang đọc: Truyền hình là gì vậy? Phân loại, đặc trưng, các yếu tố cơ bản

Sự ra đời của truyền hình đã góp phần thực hiện cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo ở trên khắp hành tinh. Với các ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã thực hiện cho cuộc sống như được cô đọng lại, thực hiện giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức , và phong phú hơn về nội dung.

Ngày 7/9/1970 chính là ngày phát sóng đầu tiên của chương trình truyền hình Việt Nam. Thấm thoắt đã 35 năm. Ngày 7/9 trở thành ngày kỉ niệm truyền thống của truyền hình Việt Nam. Từ ngày ấy đến nay, truyền hình Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng , có các tiến bộ vượt bậc. Từ phát hình đen trắng chuyển sang phát hình màu, từ phát thử nghiệm chương trình 4 giờ/ ngày vào ban đêm, đến năm 1995 phát 10 giờ/ ngày; đến nay Đài Truyền hình Việt Nam phát với tổng số thời lượng chính là 200 giờ/ ngày trên 5 kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5 cùng với 4 kênh truyền hình cáp hữu tuyến và 64 đài phát thanh – truyền hình địa phương. Ngành truyền hình Việt Nam đã có nhiều nỗ lực vượt bậc nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng. Truyền hình Việt Nam còn chú trọng đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân viên, cán bộ kỹ thuật, đặc biệt chính là đội ngũ phóng viên, biên tập nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp , và sự quy chuẩn của đội ngũ người thực hiện truyền hình hiện đại.

Như vậy, cùng với sự phát triển của các loại hình truyền hình, việc nâng cao chất lượng thông tin ở trên truyền hình ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, ở Việt Nam các tài liệu điều tra về lý luận và thực hành truyền hình phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy , và học tập ở các trường, khoa còn quá ít ỏi, chưa có hệ thống, chưa tương xứng với sự phát triển của truyền hình.

Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh , và tiếng Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ”ở xa” còn “videre” chính là ”thấy được”, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được đến từ xa. Ghép hai từ đó lại “Televidere” có nghĩa chính là xem đã được ở xa. Tiếng Anh chính là “Television”, tiếng Pháp chính là “Television”, tiếng Nga gọi chính là “Tелевидение”. Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa.

Tìm hiểu thêm: Thuật ngữ Closing time / Free time

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX , và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật , công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng.

Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như chính là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý , giám sát xã hội, tạo lập , định hướng dư luận, giáo dục , phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo , các dịch vụ khác.

Sự ra đời của truyền hình đã góp phần thực hiện cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không các tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh. Với các ưu thế về kỹ thuật , và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại thực hiện giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức , và phong phú hơn về nội dung.

2. Phân loại truyền hình

Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) , và truyền hình cáp (CATV). Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercial TV). Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí,.. Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự (Analog TV) , truyền hình số (Digital TV)

Truyền hình sóng: (vô tuyến truyền hình- Wireless TV) đã được thực hiện theo nguyên tắc kỹ thuật như sau: hình ảnh , âm thanh được mã hóa dưới dạng các tín hiệu sóng , phát vào không trung. các máy thu tiếp nhận các tín hiệu rồi giải mã nhằm tạo ra hình ảnh động và âm thanh ở trên máy thu hình (ti vi). Còn sóng truyền hình là sóng phát thẳng, vì thế ăngten thu bắt buộc phải ”nhìn thấy” được ăngten máy phát và phải nằm trong vùng phủ sóng thì mứoi nhận được tín hiệu tốt.

Từ các đặc điểm kỹ thuật trên, nên truyền hình sóng chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu của công chúng chỉ bằng các chương trình cho các đối tượng; không có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu hay dịch vụ cá nhân.

Truyền hình cáp: (hữu tuyến – CATV- viết tắt tiếng Anh chính là Community Antenna Television) đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt hơn cho công chúng. Nguyên tắc thực hiện của truyền hình cáp là tín hiệu đã được truyền trực tiếp qua cáp nối từ đầu máy phát đến từng máy thu hình. Từ đó, truyền hình cáp trong cùng một lúc có thể chuyển đi nhiều chương trình khác nhau đáp ứng theo nhu cầu của người sử dụng. Ngoài ra truyền hình cáp còn phục vụ nhiều dịch vụ khác mà truyền hình sóng chưa thể làm được.

3. Đặc trưng của truyền hình

Xem thêm: Công nhân viên chức tiếng anh chính là gì vậy? Sự khác biệt với viên chức?

Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh các đặc điểm chung của báo chí nó còn có các đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyền hình.

a, Tính thời sự

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí. Nhưng truyền hình với tư cách chính là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có nguy cơ thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác. Với truyền hình, sự kiện đã được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình. Truyền hình có nguy cơ phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem các thông tin nóng hổi số 1 về các sự kiện diễn ra, cập nhật các tin tức mới nhất. Đây chính là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác.

Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh , và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng giải nó”.

b, Ngôn ngữ truyền hình chính là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh

Một ưu thế của truyền hình là đã truyền tải cả hình ảnh , âm thanh cùng một lúc. Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận chỉ bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện chỉ bằng cả thị giác và thính giác. Qua các cuộc điều tra người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu đã được chính là qua thị giác và 20% qua thính giác. Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung ứng thông tin rất nhiều lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng thực hiện thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện.

c, Tính phổ cập , quảng bá

Do các ưư thế về hình ảnh , và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc. Cùng với sự phát triển của khoa học , và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ đã được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa. Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kì đâu đã được đưa lên vệ tinh cũng sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến. Ngày nay ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt đã được sự kiện diễn ra ở trên thế giới.

d, Khả năng thuyết phục công chúng

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh , âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ vào nhận thức của con người. Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng. “Trăm nghe chưa chỉ bằng mắt thấy”, chính truyền hình đã cung ứng các hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu “thấy” của người xem. Đây chính là lợi thế lớn của truyền hình so với loại hình báo in , phát thanh.

e, Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ , trở thành diễn đàn của nhân dân

Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem chỉ bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng. Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ. Các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục “Sự kiện , bình luận”, “Đối thoại trực tiếp”, “Chào buổi sáng” của ban Thời sự VTV1 không chỉ ảnh hưởng dư luận mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự phát triển của xã hội và các đường lối, chính sách của Đảng , và Nhà nước.

Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo, nên sự tác động dư luận ngày càng rộng rãi. Chính vì thế, truyền hình có nguy cơ trở thành diễn đàn của nhân dân. Các chuyên mục “ý kiến bạn xem truyền hình”, “với khán giả VTV3”, “Hộp thư bạn xem truyền hình” ,… đã trở thành cầu nối giữa người xem , và các người thực hiện truyền hình. Qua đó người dân có thể nêu lên các ý kiến khen chê, ủng hộ, phản đối, góp ý phê bình về các chương trình truyền hình của đài truyền hình hoặc gửi đi các thắc mắc, bất cập, sai trái ở địa phương. Rất nhiều vụ tham nhũng, lạm dụng quyền hạn được người thực hiện báo làm sáng tỏ qua sự phản ánh của nhân dân.

4. Đặc điểm của báo chí truyền hình , sản phẩm của truyền hình.

a, Về nội dung kỹ thuật

Trong loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiện ra đời muộn, tuy nhiên nó chính là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển. Truyền hình đã thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh , và phát thanh. Ở truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thể chỉ bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phát thanh, tính hình tượng của hội họa, cảm xúc tư duy của âm nhạc. Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật công nghệ giúp cho truyền hình gây nên phương pháp mới trong truyền đạt thông tin. Truyền hình là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa: kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí.

b, Về tư duy , và sáng tạo tác phẩm

Mỗi các loại hình truyền thông đại chúng đều có các đặc thù riêng. Nếu chỉ xét ở trên phương diện quá trình làm ra một sản phẩm, ở báo in mỗi tác phẩm, mỗi bài báo có thể chính là sản phẩm riêng, là sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, mỗi nhà báo. Nhưng để sáng tạo một tác phẩm truyền hình còn công phu hơn nhiều, đó chính là đứa con tinh thần của cả một tập thể, đạo diễn, biên kịch và các người làm kỹ thuật. Sản phẩm đó thể hiện ý kiến thống số 1 của từng thành viên trong đoàn thực hiện phim, giữa người biên tập và người quay phim. Vì vậy đối với báo in, nhà báo có thể viết đề cương rồi viết luôn thành bài, còn ở truyền hình do tính chất đặc thù quy định, đề cương đó được thể hiện ở kịch bản. Kịch bản chính là sương sống cho một tác phẩm truyền hình, đồng thời gây ra sự thống số 1 giữa đạo diễn , quay phim trong quá trình làm phim, sự ăn ý giữa hình ảnh , lời bình.

5. các yếu tố cơ bản trong truyền hình

a, Lượng thông tin

Do trực quan cảm giác truyền hình rất tránh lượng thông tin lý luận , và tư duy trừu tượng. Ký hiệu thông tin truyền hình thuộc ký hiệu đồng nhất (sự hợp lý hoàn toàn giữa nội dung ký hiệu , và vật thể mà ký hiệu đại diện), thông tin trong truyền hình thường mang tính cụ thể, dễ hiểu chỉ bằng hình ảnh, âm thanh tự nhiên, có tính thuyết phục cao.

b, Hình ảnh trong truyền hình

Hình ảnh trong truyền hình vừa chính là phương tiện vừa là nội dung thể hiện ý đồ tư tưởng của tác phẩm. Hình ảnh trong truyền hình phản ánh không gian ba chiều lên mặt phảng hai chiều của truyền hình. Khác với hình ảnh tĩnh tại của các nghệ thuật tạo hình như hội họa, nhiếp ảnh. Hình ảnh trong truyền hình là hình ảnh động có thực đã qua xử lý kỹ thuật

Năm 1828, nhà vật lý người Bỉ J.Plateau đã chứng minh nguyên lý lưu ảnh trên võng mạc của mắt người , chính ông là người đã xác định nguyên lý cơ bản của nghệ thuật thứ bảy. Nguyên lý đó là sự biến đổi các hình ảnh tĩnh của nhiếp ảnh thành các hình ảnh động của điện ảnh 24 hình/giây và sau này, truyền hình với việc truyền , và tái tạo hình ảnh điện tử 25 hình / giây. Ở điện ảnh , và truyền hình, hình ảnh được tái tạo sinh động, thường xuyên về quy trình phát triển của sự vật, hiện tượng, còn ở nhiếp ảnh, hình ảnh chính là sự tái hiện cuộc sống trong khoảng khắc. trong tác phẩm truyền hình, hình ảnh không các mô tả sự hoạt động của con người mà còn giúp khán giả “tham gia” sự kiện. Chỉ cần ngồi tại chỗ với chiếc máy thu hình, người xem có thể biết đã được sự việc xảy ra xung quanh mình hoặc cách xa mình hàng vạn cây số, hàng năm ánh sáng. Truyền hình đã kế thừa kinh nghiệm của điện ảnh về cỡ cảnh, góc độ máy, động tác máy , nghệ thuật Montage.

Tham khảo thêm: &quotMướp&quot trong Tiếng Anh chính là gì: Định Nghĩa, thí dụ Anh Việt

Các cỡ cảnh chính trong truyền hình là: toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh, Với các cỡ cảnh này, truyền hình có thể thỏa mãn nhu cầu muốn biết cái gì đang xảy ra, nó xảy ra như thế nào của khán giả. Mặt khác qua các cỡ cảnh tác giả có thể bộc lộ đã được thái độ tâm lý của con người trong sự kiện đó. Qua các góc quay cao thấp, chính diện, ¾ góc độ chủ quan và khách quan, các tác phẩm truyền hình có thể giúp cho người xem “tham gia” sự kiện hay là “đứng trên” nhìn vào sự kiện.

Tuy nhiên, hình ảnh trong truyền hình có nhiều điểm khác hình ảnh trong phim truyện. Mục đích của các cảnh trong các tác phẩm truyền hình là thông tin thời sự , và xác thực. Tính thời sự, tính phổ biến không thể thiếu đã được trong các tác phẩm báo chí. Còn điện ảnh, với mục đích giải trí, với phương pháp tái tạo cuộc sống chỉ bằng hình tượng nghệ thuật, việc hư cấu là không thể xóa bỏ. Bởi vậy, khi làm phim truyện, người ta phải mất nhiều thời gian dàn cảnh, bố trí đạo cụ, phục trang, hóa trang…. Trong khi đó, người phóng viên khi quay phim phóng sự hay là tin truyền hình, ít khi có điều kiện dàn dựng hiện trường, ít có góc độ thời gian để chọn góc độ, ánh sáng. Thậm chí khi công chúng chỉ ra sự dàn dựng giả tạo, tính thuyết phục của tác phẩm truyền hình cũng sẽ giảm sút.

Truyền hình chính là phương tiện quan sát trực tiếp cuộc sống của mỗi gia đình, khả năng trực quan có tác động rất nhiều lớn tới quy trình nhận thức của con người. Chỉ riêng một khuôn hình thôi cũng có thể truyền đạt trực tiếp hình ảnh của sự vật cụ thể. Trong các tác phẩm truyền hình , và mỗi hình ảnh đều phải bao hàm một ý nghĩa, một nội dung nào đó hoặc chính là nguyên do, diễn biến hoặc là kết quả của quá trình phát triển sự kiện trong cuộc sống. Các hình ảnh liên kết với nhau theo tuyến tính thời gian. Hình ảnh trong tác phẩm truyền hình chính là phương tiện để tác giả biểu thị ý đồ, tư tưởng: “ bản thân sự thể hiện hình ảnh đã là nội dung, chính là hành động rồi , vì vậy, nó hàm chứa các nguyên do của chính cách xây dựng khuôn hình, hoặc thay thế khuôn hình này bằng một khuôn hình khác.”

Ý nghĩa của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình thể hiện ở chỗ cảnh quay cho xem cái gì, góc quay , động tác máy có ý nghĩa như thế nào, tác giả muốn biểu lộ ý đồ qua góc quay này. Khả năng biểu hiện của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình còn thể hiện ở mối liên hệ trong các hình ảnh. Qua phương pháp Montage, nội dung tự thân của mỗi hình ảnh phối hớp với nhau, gây ra nội dung thông tin mới mang tính tổng thể. Sự sắp xếp hình ảnh trong quy trình truyền đạt thông tin giúp cho con người cảm nhận đã được tính đa chiều, lập thể trong mỗi sự kiện, vấn đề, số phận con người. Tư duy làm khán giả phát hiện đã được tính ẩn dụ của hình ảnh, của các hiện tượng lắp ráp , qua đó dấu hiệu được mối quan hệ của sự kiện, sự vật.

Cũng như loại hình “nghệ thuật ống kính” khác (nhiếp ảnh, điện ảnh) truyền hình phải lựa chọn các hình ảnh truyền thông đắt số 1 để phản ánh nét bản chất của vấn đề.

Quá trình xử lý hình ảnh trong tác phẩm truyền hình phải phù hợp với điều kiện và môi trường giao tiếp thông tin (trong gia đình với khoảng cách gần và màn ảnh). Thông thường để hiểu được nội dung một cận cảnh, người ta cần từ 2-5 giây, để hiểu đã được nội dung trung cảnh, người ta cần 5-8 giây, còn toàn cảnh lượng thời gian còn nhiều hơn nữa. Hình ảnh trong các tác phẩm truyền hình phải tuân thủ theo nguyên tắc cảm nhận như thói quen quan sát khuôn hình từ trái sang phải, từ ở trên xuống dưới, quy luật hình khối, xa gần, cân đối đường nét, màu sắc, kích thước sự vật, đường vàng (đường chéo), đường mạch, điểm mạch, chiều vận động của đối tượng.

c, m thanh

m thanh chính là các yếu tố tồn tại khách quan trong đời sống xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình thông tin, truyền hình đã kế thừa kinh nghiệm xử lí, thể hiện âm thanh của phát thanh. Ba yếu tố của âm thanh (lời bình, tiếng động, âm nhạc) được sử dụng trong truyền hình nhằm thông tin phản ánh cuộc sống. Nhờ sự trợ giúp cho của âm thanh tác phẩm truyền hình trở nên sống động chư bản thân cuộc sống. m nhạc trong bản thân tác phẩm truyền hình phải chính là âm thanh từ cuộc sống thực tế không đã được dàn dựng, giả tạo bởi mục đích của các tác phẩm truyền hình chính là các hình ảnh và âm thanh ghi lại hơi thở, động thái của cuộc sống. Tính xác thực trong âm thanh truyền hình chính là sức mạnh của thể các loại này.

Lời bình trong tác phẩm truyền hình là sự bổ sung cho các gì người xem thấy trên màn hình chứ không phải các gì họ đã nhìn thấy. Lời bình được tiến hành song song với hình ảnh. Lời bình ( thuyết minh) bắt đầu hình thành trong giai đoạn xây dựng kịch bản. Lời thuyết minh phải nảy sinh không trước thì cũng đồng thời với việc xây dựng kịch bản. Lời thuyết minh phải truyền đạt đã được nội dung tư tưởng của phim. Vậy lời thuyết minh phải đạt được các yêu cầu sau: phải giúp cho người xem tổng hợp, khái quát đã được ý nghĩa của sự việc, sự kiện phản ánh trong tác phẩm của truyền hình.

d, Tiếng động hiện trường:

Tiếng động hiện trường bao gồm âm thanh của thiên nhiên ( mưa, gió, nước chảy…), âm thanh do sinh hoạt con người tạo nên( tiếng dụng cụ lao động, máy móc, tiếng reo hò…), tiếng động nhân tạo… Có người cho rằng: “ Phim tài liệu, phóng sự truyền hình không có tiếng động khác nào phim câm”.

Rõ ràng tiếng động sẽ thực hiện tăng sự gợi cảm, tính chân thực của tác phẩm truyền hình nhằm ảnh hưởng vào nhận thức, tình cảm của người xem truyền hình. Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng động phải đúng cường độ, đúng lúc. Dùng tiếng động hiện trường không tốt cũng sẽ làm giảm tốt nhất của tiếng động truyền hình. Việc sử dụng tiếng động quá to, át lời bình cũng sẽ gây cảm thấy khó chịu cho khán giả. Mặt khác, tiếng động trong các tác phẩm truyền hình không nên là tiếng động giả tạo như trong phim truyện.

Theo kinh nghiệm của các nhà làm phim Canada thì trong phim phóng sự tài liệu Canada trước đây: 90% chính là lời bình, 5% chính là phỏng vấn, 1% chính là tiếng động. Sau đó một thời gian tỉ lệ này đã thay đổi: 80% là lời bình, 15% phỏng vấn, 5% tiếng động. Hiện nay 40% lời bình, 40% phỏng vấn, 20% tiếng động. Điều này chứng tỏ tiếng động hiện trường rất quan trọng trong phim phóng sự truyền hình. Vấn đề chính là sử dụng tiếng động hiện trường như thế nào cho hiệu quả, tạo đã được sự hấp dẫn đối với người xem.

e, m nhạc:

m nhạc chính là một trong ba yếu tố quan trọng của tác phẩm truyền hình. m nhạc trong tác phẩm truyền hình có tác dụng làm tôn thêm hình ảnh , và sự kiện, không chỉ lúc nào cũng vang lên mà chỉ sử dụng lúc cần thiết. Mỗi bản nhạc khi sử dụng phải hợp lý với kết cấu, ý đồ cũng như chủ đề tư tưởng của tác phẩm truyền hình. m nhạc thường xen kẽ tiếng động hiện trường. m nhạc cũng phải có kịch tính gợi cảm chứ không chỉ minh họa cho phim. Không thể sử dụng âm nhạc một cách tuỳ tiện mà phải phụ thuộc vào nội dung, cách thể hiện hình ảnh trong phim.

(Tài liệu tham khảo: Giáo trình Báo chí Truyền hình)

Xem thêm: Kiểm soát viên tiếng anh chính là gì vậy? Làm kiểm soát viên có khó không?

Bạn thấy bài viết thế nào?

Tìm hiểu thêm: Shaker là gì? 5 Điều về shaker nhân viên pha chế cần biết